Tùy theo mỗi cá nhân, mức độ ảnh hưởng của biến cố được chia thành 3 nhóm: Nhóm vượt qua ảnh hưởng, nhóm bị căng thẳng (chiếm 60% đến 90%) và nhóm bị rối loạn bởi khủng hoảng (chiếm 5% đến 49%). Nhóm bị căng thẳng dù có thể thực hiện được một số hoạt động bình thường nhưng cần được theo dõi, vì một số ca có thể rơi vào nhóm rối loạn. Các biểu hiện rối loạn tâm thần có thể bao gồm trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi (lạm dụng thuốc, lạm dụng rượu), rối loạn stress sau sang chấn...
Trái với suy nghĩ sơ cứu tâm lý là hoạt động tư vấn cần sự chuyên nghiệp, thực tế chỉ ra rằng không chỉ những chuyên gia mà người bình thường như chúng ta cũng có thể tham gia hoạt động này. Mỗi người đều có thể hỗ trợ cộng đồng và bác sĩ thực hiện sơ cứu tâm lý sau thảm họa theo mô hình RAPID do trung tâm dự chuẩn sức khỏe cộng đồng của trường đại học Johns Hopkins sáng lập (The Johns Hopkins Center for Public Health Preparedness).
Mô hình RAPID tạo thành từ các yếu tố gồm:
R: Reflective listening – lắng nghe và thấu hiểu. Mục đích của việc này là tạo dựng mối quan hệ giữa hai bên và khiến người bị nạn cảm nhận được rằng họ đang được lắng nghe và thấu hiểu. Thấu hiểu thường tạo nên sự tin tưởng và tin tưởng dẫn đến người bị nạn lắng nghe và làm theo lời trợ giúp.
A: Assessment – đánh giá. Đánh giá nhu cầu thể chất và tâm lý cơ bản của người bị nạn, họ đã có nơi ẩn trú an toàn và đủ nhu yếu phẩm thường ngày chưa… Những thông tin này thường được thu thập từ câu chuyện của người bị nạn.
P: Priotization – ưu tiên. Sơ cứu tâm lý ưu tiên và tập trung sự chú ý vào những người cần sự giúp đỡ khẩn cấp, nhấn mạnh vào khả năng hoạt động cơ bản với câu hỏi “một người đang trong tình trạng nguy cấp có thể làm và cần làm những gì?”. Yếu tố này bao gồm hai phương thức hoạt động ưu tiên dựa trên bằng chứng và dựa trên mối rủi ro. Ưu tiên dựa trên bằng chứng là sử dụng khả năng quan sát, lắng nghe của bạn để đánh giá khả năng nhận thức hành vi của người bị nạn thông qua thể chất, cảm xúc, lời nói, hành vi, cách người đó giao tiếp… Còn ưu tiên dựa trên rủi ro là dựa vào những vết thương thể chất mà người bị nạn cần điều trị ngay lập tức (nếu có), các mối quan hệ xung quanh (liệu người đó có còn ai để nương tựa không) hoặc những trải nghiệm khủng hoảng tương tự mà người đó từng gặp phải trong quá khứ. Ưu tiên dựa trên rủi ro cũng cần được đánh giá kèm với ưu tiên bằng chứng.
>>> Có thể bạn quan tâm: Đừng nhầm lẫn giữa "Khẩn cấp" và "Quan trọng" nếu bạn muốn trở nên thành công
I: Intervention – can thiệp. Can thiệp khẩn cấp bao gồm chăm sóc, giúp đỡ nhu cầu cơ bản nhất cho người bị nạn (như thức ăn, nơi ở…), làm dịu bớt các chấn thương, đau buồn tâm lý và nếu có thể, giúp người bị nạn khôi phục lại khả năng hoạt động cơ bản. Điều quan trọng nhất trong can thiệp chính là giúp người bị nạn đáp ứng nhu cầu cơ bản và sau đó mới làm dịu bớt các chấn thương, đau buồn tâm lý. Có hai kiểu can thiệp, dành cho người tâm lý không ổn định (hoảng loạn, sợ hãi, có ý định tự tử) và dành cho người tâm lý tạm ổn định, bồi dưỡng khả năng hoạt động bình thường lại.
D: Disposition – sắp xếp và theo dõi. Nếu người bị nạn có vẻ có thể tự chăm sóc bản thân và hoàn thành trách nhiệm của mình thì sự can thiệp có thể dừng ở đây.
Mong rằng bài viết trên đây đã góp phần giúp bạn hiểu thêm về vai trò cũng như cách thức “sơ cứu tinh thần” cho những người cần trợ giúp sau biến cố. Hãy quan tâm nhiều hơn đến những chấn thương tâm lý cũng như áp dụng mô hình RAPID để góp phần giảm thiểu những tác hại về mặt tâm lý do thiên tai, dịch bệnh gây ra nhé.
>>> Xem thêm: